28
Th6
11

Nếu khai chiến trên biển Đông, Hoa lục có thể sẽ thua Việt Nam

 Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như “Đại công báo”, “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Hoa Lục trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Hoa Lục gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Hoa Lục chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Hoa Lục cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Hoa Lục còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này. 1- Rào cản chính trị: Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Hoa Lục về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Hoa Lục tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Hoa Lục gọil à Nam Sa). Còn khả năng Hoa Lục và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Hoa Lục áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Hoa Lục tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Hoa Lục sẽ tăng cao. – Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam . Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. – Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ – Xinhgapo – Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”. – Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam – Malaixia, cách Hoa Lục xa như vậy, nói là của Hoa Lục thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Hoa Lục, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Hoa Lục. 2- Rào cản về quân sự: Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Hoa Lục với Việt Nam, phía Hoa Lục có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa – quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Hoa Lục. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v. – So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Hoa Lục tham gia cuộc chiến tranh này thành phần chính sẽ là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang bị máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang bị phi đạn tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO-636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Hoa Lục. Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Lục phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị hoả tiễn siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của Ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300km. Về năng lực phòng không, Hoa Lục và Việt Nam đều được trang bị tên hỏa tiễn đối không “S-300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Hoa Lục là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Hoa Lục) có căn cứ trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế. 3- Rào cản về địa lý: Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 – 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su-22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Hoa Lục và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân trung tâm của đối phương. Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Hoa Lục kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 – 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 – 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J-10” và “J-8D” và cả “Su-30MKK” và “Su-27SK” của Không quân Hoa Lục đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%. Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Hoa Lục nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su-27SK” và “J-10A” của Hoa Lục, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG-21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG-21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Hoa Lục đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào. 4- Rào cản về chiến thuật: Máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Hoa Lục chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại radar trên tàu mặt nước của Hoa Lục và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Hoa Lục. Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Hoa Lục áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Hoa Lục không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam. Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 – 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết.

Nguon: http://viet-studies.info/kinhte/HoaLucSeThua.htm

Advertisements
25
Th6
11

Đạo tình

Tác giả: Thích Thanh Thắng

Chia tay Huế, tôi buồn, và tôi chỉ sợ hôm nào sẽ vắng thêm một người trên lối cũ, chỉ sợ tiếng nhớ trong đêm không có người in, chỉ sợ một mai Đạo Tình mai một.

Đặt chân đến Huế, cảm xúc ấy trong tôi thật khó tả. Huế vẫn rất cũ và rất mới. Những con đường, hàng cây, những ngôi chùa, đền đài lăng tẩm cổ kính…, đối với tôi đã hơn một lần trở nên quen thuộc. “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Cái mới luôn tiềm ẩn trong những hình thức gần gũi, thân quen ấy, nên tôi có thể ngắm dòng Hương thật lâu trên hành trình du thuyền về thượng nguồn mà không hề biết mệt, biết chán.

Trải qua nhiều thăng trầm, đục trong của lịch sử, dòng Hương đã trở thành dòng sông tâm linh của dân tộc. Tháp Phước Duyên (Thiên Mụ) trầm hùng như thúc giục bước chân lữ khách mười phương, và tiếng chuông rơi nhẹ vào không gian thầm nhắn nhủ rằng dòng Hương đã muôn ngàn ngày Phật hóa.

Dòng Hương dẫn tôi về những câu chuyện xa xưa của những cuộc thủy chiến, của những người đã bỏ mạng để tạo nên những nhịp Trường Tiền duyên dáng, của những trận dịch tả hoành hành suốt dọc hai bờ sông Hương với những ngôi làng tan hoang vắng vẻ vì thiếu bóng người… Dòng Hương có nhiều vui buồn như thế, nhưng dòng Hương thật đẹp. Vẻ đẹp của dòng Hương là vẻ đẹp từ bi. Tôi nghĩ từ bi là sức mạnh, là cứu khổ. Không biết Huế sẽ thế nào khi không có dòng Hương?

Tôi nhìn Huế từ góc nhìn chủ quan của một người Phật tử miền Bắc. Dĩ nhiên, tôi không bàn luận nhiều đến kiến trúc, điêu khắc của những ngôi chùa, cách thờ tự và cả thói quen sinh hoạt ở đây. Điều mà tôi có thể lắng nghe Huế là dừng lại, im lặng và trầm ngâm để trải nghiệm những bước chân, bóng áo của người xưa đã từng và vẫn còn phảng phất đâu đó nơi mỗi bậc thềm, bóng cây, ngọn tháp. Tôi trải nghiệm Huế bằng sự im lặng như thế, chân thành và tỉnh táo. Có lúc tôi giấu sự xúc động của mình đi vì tôi nghĩ Huế không cần tôi phải ồn ào bằng sự ngạc nhiên hay thêm một lời khen tặng nào ngay lúc đó.

Thú thật, hình ảnh những ngôi chùa cổ ở miền Bắc luôn cho tôi cảm xúc và ấn tượng tâm linh mạnh mẽ, vì đó là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, nơi phát xuất những niềm tin ban đầu của tôi về đạo Phật. Không gian văn hóa vùng đã tạo nên nếp nghĩ và cách cảm nhiều chủ quan như vậy trong tôi, nên tôi không thể trả lời ngay nếu ai đó hỏi tôi rằng chùa Bắc có không khí thiền như chùa Huế không? Ở Huế, tôi nghĩ các bậc trưởng lão chân tu nhiều đời đã đem chất thiền giấu trong nụ cười điềm nhiên của Đức Phật, nên chất thiền ấy có sức sống lan tỏa thấm sâu từ đất, từ nước, từ giọng nói nhỏ nhẹ: Dạ thưa,… mô Phật!

Tôi nhận thấy có những hùng tâm đã vượt qua sự chi phối có tính chất vương giả cung đình ở những ngôi quốc tự sặc sỡ để trở thành di sản tinh thần của bao đời dân chúng. Hơn nữa, chất Phật đã trở thành cốt cách và đức hy sinh (danh lợi) bản thân của biết bao người đã sống một đời thủy chung với Huế, với Đạo với Đời. Họ ra đi hay họ ở lại có nghĩa gì đâu khi cả Huế và Phật đã cùng ngự ở trong tận sâu thẳm tâm hồn.

Từ Huế, tôi mường tượng về cảnh chùa quê u tịch nơi tôi sinh ra, và lúc đó tôi lại cảm nhận rõ hơn về nỗi đau đời, thương người trên từng mảnh đất Phật nơi miền đất Bắc. Những giọt lệ bi tâm trong những đêm thiền vẫn truyền đời nhỏ xuống, cất thành nỗi niềm da diết với non sông. Tôi từng ngồi một mình xúc động khi nghe lại tiếng người xưa gọi với: “Có ai về phương Nam cho tôi theo về với!”. Thiền sư Tuệ Tĩnh gửi thân nơi đất khách bằng niềm tin phương Nam da diết ấy. Phương Nam của Thiền sư Tuệ Tĩnh là Kinh Kỳ – Phố Hiến, phương Nam của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông là Huế, phương Nam của chúa Tiên, chúa Sãi là Sài Gòn, Hà Tiên… Trong quan hệ với Thiên triều (Trung Hoa), dù trải khắp núi sông, người Việt lúc nào cũng cùng chung một tiếng gọi đầm ấm phương Nam như thế.

“Tiếng chuông ngân ba cõi, bóng tháp ngả trùm đồng”, như dõi theo từng tiếng mẹ ru con trong khuya, từng giọt mồ hôi đổ xuống để biến đất dữ thành lành, từng nhịp sống hướng thiện hành thiện… Dù những vết khuyết lịch sử có lúc hằn lên một cách gân guốc, nhưng đã hòa trộn, nối dài không gian đa tín ngưỡng qua tiếng kinh cầu bắc nhịp khoan dung. Không khó để có thể trải nghiệm điều đó trong những mối quan hệ mà sự đấu tranh sinh tồn đã đến mức nhẫn nại, đớn đau, nhưng cũng chan chứa lòng vị tha, độ lượng.

Cũng vì những cảm thức chủ quan này mà một ngôi chùa nhỏ hẻo lánh, dân dã nơi thượng nguồn dòng Hương với những cây trái thơm mùi bàn tay lao động đã thuyết phục tôi, nơi mà tâm của vị nữ tọa chủ quá rộng, rộng đến mức giọng nói chân chất đạo tình và tiếng cười sảng khoái đã đem đến cho tôi cảm giác bình yên, tin tưởng.

Trụ trì là Phật bổ xứ. Sự chọn lựa của lịch sử và sự can thiệp máy móc của công quyền khi xưa có nhầm lẫn nào chăng? Người xưa có tùy thuận vui buồn gì không khi đến ngồi ngai “quốc tự”? “Trong núi vốn không có Phật” (Quốc sư Phù Vân). “Ẩn chẳng rừng sâu là đại ẩn, Chùa nhà tu Phật mới chân tu” (Nguyễn Trãi). Sẽ là bất công nếu tôi nghĩ rằng tất cả “quốc tự” đều là cách khoe khoang bản ngã của thời đại, bởi ai có thể đứng ngoài mọi cuộc trần ai.

Điều may mắn để khám phá Huế của tôi đến từ cơn nắng nóng gay gắt trong một chuyến đi chiều. Rất gần gũi và rất thật, đó là mồ hôi đẫm áo, đó là hai chữ Đạo Tình.

Tôi được cùng quý Ôn và các vị huynh đệ (thường nói vui với nhau là “đồng chí”) đến thăm một người mẹ già đang ốm nặng trong khi người bạn pháp của quý Ôn đang hành đạo ở phương Nam. Tu chung đã đành rồi, việc Phật sự chung đã đành rồi, nhưng tôi cảm nhận gần như ai cũng hiểu ra mình có một người mẹ chung như thế. Không phải sự hạ cố kiểu cách, đó là Đạo Tình, là tay nắm tay, là tâm an tâm.

Người Phật tử như tôi chỉ còn biết xúc động thật sự, từ đời sống ứng xử cá nhân, đến cung cách sinh hoạt trong đời sống thường nhật của quý ngài nơi thiền môn xứ Huế. Như thế có việc Phật sự nào mà không thành? Không thành chỉ còn là do bản ngã ích kỷ mà thôi!

Chia tay Huế, tôi buồn, và tôi chỉ sợ hôm nào sẽ vắng thêm một người trên lối cũ, chỉ sợ tiếng nhớ trong đêm không có người in, chỉ sợ một mai Đạo Tình mai một.

Huế ơi!

Link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-20-dao-tinh

24
Th6
11

Lấy vợ về làm gái

Vẫn “yêu” và vẫn ghen cuống cuồng mỗi buổi sáng khi vợ “đi làm” về, thế nhưng những gã đàn ông trong bài viết này lại chấp nhận cho vợ mình làm cái nghề cả xã hội lên án, chỉ vì cô ta còn có thể kiếm ra tiền.

Cách đây mấy tháng, khi cùng đồng nghiệp có buổi “thực tế” tìm hiểu về thế giới của những cô gái nhảy “dã chiến” (nghĩa là khi nhận được điện thoại của đám nhân viên quán karaoke, alo cho biết “có khách” là họ vội vàng lao đến, chứ không hề có lịch từ trước), chúng tôi đã làm quen với một gái nhảy còn rất trẻ, cô mới khoảng 20, xinh đẹp, chân dài và tất nhiên chưa có nhà Hà Nội.

Sau 10 phút làm “hướng dẫn viên phi đội bay”, cô vội vàng vơ tiền bo, vơ quần áo mặc vào nhanh như lúc cởi ra. Vì là khách ruột nên cô chịu ngồi lại với chúng tôi uống chén rượu, kể chuyện tí tẹo: “Em có người yêu rồi, nó đang đợi em ở dưới đường”- cô nói thế và vơ túi xách chạy lộp bộp xuống cầu thang.

Ở dưới đường, một gã trai trẻ như cô đang bóp còi con “uây chiến” inh ỏi. “Bồ nó đấy. Nghe thấy bảo sắp cưới nhau…”- anh chàng phục vụ buông một câu chẳng biết là muốn kể với chúng tôi hay là cám cảnh thay cho cô gái trẻ kia.

Và chúng tôi thấy cô leo tót lên con “uây chiến”, ôm eo bồ chặt cứng, vẻ mặt thật mãn nguyện.

Không ngờ, 30 phút sau, chúng tôi lại có dịp “tái ngộ” cô cùng gã bồ ở một quán ăn đêm trên phố Mã Mây. Dân chơi đêm hay tụ tập về đây, cô gái này cũng không là ngoại lệ. Nhìn họ cười nói, bón cho nhau ăn tình tứ như những đôi tình nhân khác, tôi tự hỏi mình, không biết gã bồ của cô có biết người yêu mình vừa thực hiện màn thoát y trước ánh mắt của gần chục gã đàn ông với những động tác “như đúng rồi” không nhỉ.

Chắc chắn là biết và gã chấp nhận. “Thằng này mà không nghiện thì hơi phí” – một anh bạn đi cùng trả lời như thế cho thắc mắc của tôi. Thực ra lâu nay, những cặp tình nhân trai nghiện- gái cave không hiếm. Họ sống dựa vào nhau, “thằng chồng” thì kiếm tiền của vợ để chích hút, còn “con vợ” thì dựa hơi thằng chồng đễ đỡ phải bỏ tiền chi cho bọn bảo kê, lại có người đưa đón “đi làm”, không sợ khách bùng tiền hay đối xử quá khiếm nhã. Tiện cả đôi đường.

Nhưng đó chỉ là những cặp trai gái sống bám vào nhau có thời hạn, chứ nuôi cả dự định cưới nhau như cô gái nhảy kia thì đúng là hơi hiếm và quá phiêu lưu. Có vẻ như một tương lai không mấy sáng sủa đang hiện ra trước mắt cô ta. Tôi trộm nghĩ như thế…

“Nó ghen tuông, đánh em suốt ngày. Hôm nào mang nhiều tiền về cũng bị đánh, hôm nào được ít tiền cũng bị đánh. Nó chửi em là con *… Em nói thật với chị, em mà không bị điếc thì không bao giờ làm nghề này” – một gái mại * bị công an TP Hà Đông bắt trong một quán cà phê đèn mờ cách đây vài tháng đã vừa khóc vừa kể với tôi về hoàn cảnh của cô như thế.

Cô không xinh, đã có chồng và có con, lại bị điếc, nói chuyện cứ phải quát vào mặt nhau, thế nên tôi hình dung ra được những hạng khách làng chơi hàng ngày gặp cô. “Thế chồng em làm gì?” – tôi hỏi. “Nó ở nhà trông con thôi” – cô trợn mắt quát vào tôi.

Một gái mại * cùng bị bắt trong đám ấy kể lể: “Con này khổ lắm, kiếm tiền về nuôi chồng con mà còn bị chồng nó nện suốt, đập như đập gạch ấy…”, trong khi cô điếc tròn mắt ra nhìn vào “khẩu hình” của cô bạn, không biết có đoán ra được nội dung không mà thấy gật gù như đang nghe chuyện của người khác.

Các cụ xưa có câu “lấy * về làm vợ…”. Chả nói thì ai cũng biết vế sau, ấy thế mà nhiều thằng đàn ông lại lấy cái vế sau về làm kinh nghiệm để rồi đẻ ra hàng trăm, hàng nghìn bi kịch từ cái vế sau ấy. Có điều lạ là nhiều gã vẫn ghen, vẫn tưởng tượng ra cảnh ân ái của vợ mình với người đàn ông khác để rồi trút cơn ghen lên vợ bằng những trận đòn thừa sống thiếu chết.

Gã chồng của cô gái mại * bị điếc, vừa đánh vợ xong, nhưng khi chủ quán cà phê gọi điện báo “có khách”, là hắn lại giằng lấy đứa con còi cọc bé xíu từ tay vợ và giục vợ nhanh chóng đi kẻo… mất khách. Khổ thế!

Tôi hỏi cô gái điếc: “Sao em không bỏ quách nó đi cho rảnh nợ?”. “Em với nó có con với nhau rồi, bỏ sao được” – cô gái trả lời. Thế đấy! Nhiều người đàn bà, thậm chí có học, vì thói ích kỷ, vì muốn hưởng cuộc sống an nhàn, phú quý, đã bỏ chồng bỏ con theo trai, còn cô gái mại * này…

Thực ra, mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng quả là xét ở một góc độ nào đó, nhân cách của cô hơn đứt nhiều người đàn bà khác. Cô chấp nhận đau đớn, tủi nhục, để mỗi buổi tối vẫn được ôm con vào lòng, để cho đứa con bé nhỏ ấy vẫn có một thằng bố bên cạnh, cho dù thằng bố ấy không đáng mặt làm bố và càng không đáng mặt làm chồng.

Một đôi vợ chồng mà tôi biết, nhà ở cuối ngõ chợ Khâm Thiên cũng sống trong tình trạng dở khóc, dở cười như vậy. Anh chồng to cao lực lưỡng, xăm trổ đầy mình, tiền án cũng nhiều, tiền sự cũng lắm, phải mỗi cái tội “nghiện lòi ra” nên cũng chấp nhận vợ đi “làm thêm”.

Họ đã có… 3 đứa con cả trai lẫn gái, thế nhưng trời phú cho cô một vóc dáng vẫn gọn gàng, trắng trẻo mướt mải, dù tuổi tác cũng đã gần 40. Có điều anh chồng ấy không bao giờ ghen với vợ, hàng xóm láng giềng không bao giờ thấy vợ chồng họ cãi nhau. Hằng ngày, cô vợ xách túi đi làm từ lúc 6 giờ chiều, sáng hôm sau mới trở về, đưa tiền cho chồng lo sinh hoạt gia đình một ngày, đương nhiên là cả tiền hút chích nữa. Và cô ngủ vùi mặc chồng lo cơm nước, đợi đến tối lại xách túi lên đường.

Cuộc sống của họ, tuy không phiền đến ai, nhưng những đứa trẻ lớn lên trong ngôi nhà ấy, liệu nhân cách có được phát triển hoàn thiện, khi mà ngay từ bây giờ chúng đã hiểu vì sao tối nào mẹ chúng cũng vắng nhà, đẩy việc cai quản đàn con đã ngấp nghé bạn trai, bạn gái cho một gã chồng nghiện ngập, chuyên rình lấy trộm tiền chơi game của con để đi mua ma túy.

hât là lạ trong bất cứ xóm trọ rẻ tiền nào, cũng dễ dàng bắt gặp những cặp vợ chồng kiểu này. Họ có thể đi đăng ký, có thể không, có thể có con hoặc chỉ đưa nhau về gá nghĩa nhưng cái điệp khúc yêu thương, hờn giận, ghen tuông thì ngày nào cũng xảy ra và hình như ở đôi nào cũng giống nhau.

Kể ra thì thừa nhưng quả là bất cứ người đàn ông nào cũng muốn người đàn bà của mình là tài sản riêng, thuộc quyền sở hữu của mình, nhất là khi họ đã chính thức là vợ trên giấy đăng ký kết hôn, chứ mấy ai chịu cho kẻ khác chung *ng. Thế nên chỉ có thể lý giải cho cách sống của những gã chồng ấy là cách sống của loài tầm gửi không hơn không kém. Họ đáng lên án vì sự băng hoại đạo đức, vì thói quen lười lao động và có lẽ, điều đúng nhất để nhận định về đám chồng này, là họ không đáng mặt để làm đàn ông hoặc nếu là đàn ông thì cũng là những gã đàn ông đốn mạt.

Còn một cô gái nữa, tôi cũng muốn kể ra trong bài viết này, để bạn đọc phần nào hình dung ra cuộc sống vợ chồng của họ. Cô còn trẻ, lấy chồng sớm nhưng không tu chí làm ăn mà lo chơi bời lêu lổng nên nghiện heroin, nghiện thuốc lắc. Khi chồng cô phát hiện ra vợ mình hư đốn thì cô đã có thâm niên 2 năm nghiện hút và bán *. Khi ấy đứa con mới được hơn 1 tuổi.

Chồng cô làm nghề in lưới thuê, nuôi mình còn không đủ nói gì đến nuôi con. Anh ta chấp nhận cho vợ mình hằng đêm ra đường Giải Phóng bắt khách, bởi vì anh ta không thể lo nổi tiền thuốc mỗi ngày hàng trăm nghìn cho vợ, mà bỏ thì không được vì còn con nhỏ, dù nghiện và là gái mại *, nhưng cô ta vẫn là mẹ nó, chẳng ai thay thế bế ẵm bú mớn đêm hôm. Thỉnh thoảng lên cơn ghen, cô ta lại bị chồng đánh bầm dập thâm tím người.

Hôm gặp cô tại trại Lộc Hà khi bị gom vào đây phục hồi nhân phẩm, cô ta còn cho tôi xem vết thâm tím chưa lâu trên vai và khóc mếu kể những ngày trốn chồng ra đường vẫy khách cho đến khi chồng cô biết sự thật. Lần trước, khi cô bị đưa vào Trung tâm lao động xã hội trên Ba Vì, chính chồng cô còn giấu hai gia đình nội ngoại ở quê, nói rằng cô đi làm thuê trong Sài Gòn. Lần này chẳng biết có giấu nổi cậu con trai sắp vào lớp 2 không, khi ngày nào nó cũng hỏi mẹ đi đâu mà lâu thế. Tất nhiên là chồng cô không bao giờ vào Trung tâm thăm cô chứ đừng nói đến chuyện đưa con trai vào thăm mẹ.

Đời có hàng nghìn ngã rẽ. Nhưng việc dũng cảm thoát khỏi những gã chồng không tử tế này đối với các cô gái mại * thật khó như việc lên trời. Bởi đơn giản, các cô biết bắt đầu lại từ đâu và có gì đâu để mà bắt đầu lại? Các cô có lỗi một phần khi đã đẩy chính mình và con cái mình vào bi kịch, nhưng đáng lên án hơn cả lại là những gã chồng vô lương tâm. Thôi thì đành an ủi các cô rằng: “Thân em như giọt mưa sa”…

Nguồn: Coppy & paste

24
Th6
11

Extractive Industries Transparency Initiative (EITI) – Solution to Sustainable Development

Posted: Monday, May 30, 2011

Vietnam has a diverse variety of natural minerals with more than 60 types of minerals found in over 5,000 deposit ore mines. Some types of minerals are discovered in large reserves, including bauxite, titanium, rare earth, and limestone. Oil, gas and extractive industries have been developed rapidly in the past years and made important contributions to the State budgetary collection and socio-economic development of Vietnam. Since 2000 to date, extractive industries always make up for 10 percent – 11 percent of the country’s GDP. In 2009 alone, revenues of mineral export reached some US$8.5 billion, of which US$ 6.2 billion came from crude oil. These sectors considerably accounted for some 25 percent of State budget revenues.

However, extractive industries are exposing weaknesses and unsustainable development. Illegal extraction has rampantly been existing for long time in many localities, causing loss of minerals and State budget revenues. A recent study by the Vietnam Chamber of Commerce and Industry (VCCI) and the Consultancy on Development (CODE) pointed out that legal regulations and law enforcement in extractive industries contain a lot of flaws. Specifically, several financial obligations that companies must pay to the State like environmental protection charges, information fees and royalties, etc. s are not or not yet fully implemented. Subsequently, the State loses a large amount of incomes. On the other hand, some localities collect unofficial fees like ‘infrastructure contribution fee’ and local support fee, etc. leading mining companies to difficulties in settling payments and declined profit.

Although the laws provide that stakeholders shall disclose information in connection to incomes and expenditures from extractive industries, in reality, only certain stakeholders have access to this information. The Law on Minerals stipulates that “mineral resources are owned by the entire people” but most people do not have the opportunity and tools to monitor their so-called ‘asset.’ Besides, the lack of transparency in disclosing information relating to incomes and expenditures is a spacious room for corruption. A typical example is the opaque information concerning environmental protection charge and commission fees in the oil and gas industry. Lax oversight mechanism in combination with the lack of information publicity and the low degree of accountability are currently primary causes of unsustainable development in the extractive industries.

To use benefits of mineral extraction and processing for the country’s social and economic development and to harmonise interests from mineral resources among the State, companies and people, strengthening policy and institution in general and the transparency of information relating to incomes and expenses of extractive industries are very necessary. In addition to recent efforts like amendments to and supplements of the Law on Oil and Gas 2008 and the Law on Mineral 2010, Vietnam should study and consider engagement in global collective actions like enforcing and joining Extractive Industries Transparency Initiative (EITI).

The EITI is an initiative based on a voluntary alliance between governments, companies, social and international organisations to enhance transparency in extractive industries. This is a global standard for transparency of incomes in extractive industries, it is based on two main mechanisms: (i) Mining companies are required to publicise their payments to governments and vice versa the government must publicise the revenue it receives from mining companies. (ii) An independent agency is required [by the EITI) to be established to compare the data collected, and this agency will be managed and supervised by a joint committee. As of May 2011, 35 countries have participated in the EITI. This initiative is also supported by more than 50 of the world’s largest mining companies, hundreds of civil social organisations, mining associations, and international organisations such as the European Commission, the Commission for Africa, the World Bank, the Asian Development Bank, etc.

The Party and State of Vietnam have adopted aggressive policies, guidelines and commitments to promote information transparency and publicity. Transparency enhancement is considered one of major criteria Vietnam is striving for in the process of integration and development and repeatedly stated in many important documents like the Law on Anticorruption, the Law on Enterprises, documents of the 9th, 10th and 11th Party Congresses; and international commitments like the United Nations Convention against Corruption and the World Trade Organisation (WTO). Recently, Vietnam has participated in two initiatives, namely Construction Sector Transparency Initiative (CoST) and the Integrity and Transparency in Business Initiative for Vietnam (ITBI). This proves that the Party and the State’s transparency policies have gradually been translated into some sectors. Therefore, transparency in extractive industries is not an exception, and the EITI can be a good option in managing extractive industries which is currently in poor management.

The research by VCCI and CODE shows that most stakeholders, including State agencies in charge of extractive industries and mining companies, support the accession to the EITI. Based on results of the research on realities of extractive industries in Vietnam and experiences in implementing the EITI in the world, the research recommended that Vietnam should join the EITI because Vietnam will be able to attain some benefits like increase in revenues for the State Budget and reduction in financial losses and natural resources losses from oil, gas and mineral extraction; minimising unofficial expenses for companies; averting conflicts amongst stakeholders and building the public confidence in the Government’s management; building the trust of investors to attract more foreign investment capital for extractive industries; creating a fair business environment for all economic sectors; improving the national credit index in transparency; preventing and fighting against corruption more effectively.

Moreover, the EITI is an open initiative where each country can modify the scope of EITI enforcement to suit its political and socio-economical conditions. In spite of political, financial and personnel obstacles that may rise from the implementation of the EITI, given strong political commitments of the Government, financial and technical supports from international institutions like the World Bank, the EITI International Board, the fulfilment of the EITI is definitely possible in the coming time.

http://vccinews.com/news_detail.asp?news_id=23299

24
Th6
11

Vedan, sự “chầy cối” và những mùa thu…ngủ quên?

Kinh nghiệm về thái độ “chầy cối” của Vedan còn đó suốt 2 năm qua. Liệu lần này, “lịch sử” có lặp lại không? Xin hãy đợi.

>> Vụ Vedan: Lúng túng đến mức…khó hiểu

“Ngủ quên” trên con đường tìm công lý cho dân?

Vedan, Vedan, Vedan…cái danh từ này đã quá nổi tiếng suốt từ mùa thu năm 2008 cho tới nay- khi mùa thu năm 2010 đã bắt đầu. Trong suốt gần hai năm tròn, kể từ ngày 13/9/2008- con số 13 đen đủi theo quan niệm của phương Tây, Cục Cảnh sát Môi trường “khám phá” ra một sự thật làm bàng hoàng công chúng và làm “bối rối” các nhà quản lý môi trường: Vedan đã ngấm ngầm hủy diệt dòng sông Thị Vải trong 14 năm ròng!

Phải! đã gần hai mùa thu qua, Vedan- kẻ vi phạm vẫn ở đó, dù rằng đã phải nộp phạt hơn 127 tỉ đồng, “cái giá” cho cái gọi là chi phí bảo vệ môi trường mà đáng ra Vedan phải nộp trong ngần ấy năm. Thế còn thiệt hại mà hàng ngàn người dân sống dọc sông Thị Vải  phải gánh chịu trong suốt 14 mùa thu thì sao?

Những thiệt hại về kế sinh nhai (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, nước tưới tiêu…) trong 5110 ngày, những thiệt hại về sức khỏe của hàng ngàn con người, và cái chết của một dòng sông thì sao? Ai là người phải chịu trách nhiệm cho sự chậm trễ này? Câu trả lời vẫn đang ở đâu, và không biết liệu bao nhiêu mùa thu nữa thì lời giải và công lý sẽ được lên tiếng khi thời hạn kiện Vedan ra tòa đã sắp hết?

Vedan đã bức tử sông Thị Vải suốt 14 năm

Theo điều 127 của Luật Bảo vệ Môi trường 2005, UBND tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm “Chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật có liên quanphối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh“.

Ô nhiễm môi trường mà Vedan gây ra mang tính chất liên tỉnh (Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu), thế mà mãi gần đây các UBND các cấp của các tỉnh trên mới có mội vài động thái xúc tiến để xử lý. Nếu ai đã nói rằng thời tiết mùa thu dễ làm con người ta buồn ngủ, thì đúng là các cơ quan chức năng, mà đặc biệt là UBND tỉnh Đồng Nai, đã ngủ quên hoặc còn “ngái ngủ” trên con đường đi tìm công lý cho người dân bị thiệt hại.

4 tháng và…2 năm

Luật pháp ngàn đời của Việt Nam từ trước đến nay vẫn quy định: Những kẻ làm sai, gây thiệt hại cho cộng đồng thì phải chịu phạt và tùy theo mức độ vi phạm mà phải chịu hình phạt với mức độ khác nhau. Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định:“Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục và  bồi thường thiệt hại”.

Vedan đã làm được một nửa là “khắc phục thiệt hại” mà mình gây ra như nộp phạt phí bảo vệ môi trường và xử lý triệt để nguồn nước thải gây ô nhiễm cao trước khi xả ra môi trường. Vậy còn một nửa còn lại- “bồi thường thiệt hại” theo đúng nghĩa thì sao?

Cơ quan chức năng như Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã kết luận và lên tiếng. Các nhà khoa học, luật sư và người dân cũng đã lên tiếng mà sao bốn chữ đó vẫn chưa được Vedan hoàn thành? Phải chăng chúng ta đang loay hoay để chờ Vedan tự xin bồi thường?

Hay còn lý do nào mà người dân và cả dòng sông vẫn chưa được bồi thường mà đáng ra họ phải nhận được từ lâu rồi? Chúng ta đang sống dưới chế độ của một Nhà nước pháp quyền. Điều đó có nghĩa là mọi tranh chấp, mâu thuẫn sẽ được đặt dưới ánh sáng tối thượng của luật pháp, mọi cá nhân, tổ chức làm sai thì sẽ phải bị trừng phạt! Hơn nữa, chính quyền địa phương nơi dòng sông chảy qua, nơi người dân bị ảnh hưởng bởi nước thải từ công ty Vedan, phải là người đại diện cho người dân để đi tìm công lý.

Nguyên tắc bảo vệ môi trường ở các nước trên thế giới cũng đều quy định: Kẻ gây ô nhiễm phải chi trả “Polluter pays principle”. Việt Nam chúng ta cũng có các chế tài quy định về bảo vệ môi trường, tuy nhiên chỉ có điều việc thực thi pháp luật thì chậm hơn rất nhiều.

Một ví dụ gần đây là thảm họa tràn dầu ở vịnh Mexico do Tập đoàn dầu khí BP gây ra. Khoan chưa bàn về sự hợp tác chặt chẽ của BP với Chính phủ Hoa Kỳ để xử lý hậu quả tràn dầu, khoan chưa bàn về sự cố do vô tình hay hữu ý, mà chỉ bàn về tốc độ xử lý bồi thường thiệt hại mà sự vụ xảy ra.

Vụ tràn dầu bắt đầu xảy ra từ ngày 20/4/2010, tháng 5/2010 BP tạm thời bồi thường 1/3 số đơn của hơn 90 ngàn đơn kiện và đây mới là con số ban đầu, với 144 triệu đô la Mỹ (khoảng 2.736 tỉ đồng) cho đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp nhất bao gồm người nuôi tôm, đánh bắt thủy sản…vv.

Chi phí ước tính để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại lên tới 20 tỉ đô la! [1;2] Và hơn thế nữa, dự kiến vụ kiện BP ra tòa sẽ tiến hành trong tháng 8/2010. Một điều nữa là sự cố tràn dầu bên kia bờ Đại Tây Dương có tính chất phức tạp hơn vụ xả trộm nước thải bên dòng sông Thị Vải gấp ngàn lần. Và nước Mỹ chỉ cần 4 tháng để đi tìm công lý còn chúng ta mất gần 2 năm(!). Trong khi BP sẵn sàng trả trước và có thái độ hợp tác rất tích cực thì Vedan lại cố tình chây ì và thiếu tinh thần hợp tác.

Vụ tràn dầu BP gây nên những hậu quả nặng nề và khiến nhiều người phẫn nộ

Tính đến thời điểm này, các tỉnh thành phải chịu ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường bao gồm TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu đã tập hợp được một số đơn kiện và hoàn thiện hồ sơ kiện Vedan ra tòa. Đây là những hành động rất tích cực và đáng ghi nhận, dù rằng hơi muộn màng.

Thông tin mới nhất cho thấy họ đã hứa chịu nộp phạt theo yêu cầu. Riêng Đồng Nai, Vedan sẽ gặp mặt và thỏa thuận vào ngày 13-8 tới. Tuy nhiên, đó mới là lời hứa, chưa phải việc làm. Kinh nghiệm về thái độ “chầy cối” của Vedan còn đó suốt 2 năm qua. Liệu lần này, “lịch sử” có lặp lại không? Xin hãy đợi. Nhưng cuộc sống hiện đại buộc bất cứ đối tác nào, vào đất nước Việt Nam làm ăn cũng cần tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật. Có vậy, sự làm ăn, hợp tác mới bền lâu.

Mùa thu này hy vọng người dân các tỉnh bị thiệt hại trầm trọng bởi Vedan sẽ không bị lãng quên nữa, bởi chúng ta có đầy đủ chứng cứ để đòi lại sự công bằng.

http://tuanvietnam.net/2010-08-10-vedan-su-chay-coi-va-nhung-mua-thu-ngu-quen- (11/8/2010)

———————-

Trích dẫn

1.The New York Times. (2010). Where BP’s Money Is Landing. Nguồn:http://www.nytimes.com/2010/07/04/business/04metricstext.html?_r=1

2.The New York Times (2010). Turning crisis into an opportunity. Nguồn:http://www.nytimes.com/2010/08/06/us/politics/06memo.html?_r=1&ref=gulf_of_mexico_2010

Red

24
Th6
11

Ngành khai khoáng và mối lo lợi ích nhóm

Tình trạng thất thoát tài nguyên và nạn tham nhũng trong ngành khai khoáng vẫn không hề giảm mà thậm chí còn trầm trọng hơn. Một số tiền không nhỏ đang chảy vào túi tư nhân và các nhóm lợi ích.

Sáng kiến minh bạch trong ngành khai khoáng

Các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cạm bẫy lời nguyền tài nguyên bao gồm sự yếu kém của nền quản trị công; thiếu thông tin và minh bạch trong các khoản thu từ ngành khai thác khoáng sản và mất cân đối trong chia sẻ quyền lực và lợi nhuận. Sáng kiến minh bạch trong các ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) được khởi xướng với mong muốn đóng góp vào minh bạch hóa ngành công nghiệp khai khoáng.

Để đảm bảo việc khai thác tài nguyên sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan, đã có nhiều sáng kiến cũng như cách tiếp cận nhằm quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững ở cấp độ toàn cầu như Công bố các khoản chi trả (Publish What You Pay) do tổ chức Global Witness khởi xướng, Hiến chương phát triển bền vững ngành khai thác khoáng sản do Hội đồng quốc tế về khai khoáng và các kim loại (International Council on Mining and Metals- ICMM) đề xuất…vv. Nhưng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các Chính phủ trên Thế giới phải kể đến Sáng kiến minh bạch trong các ngành công nghiệp khai khoáng (Extractive Industries Transparency Initiative-EITI).

Bắt nguồn từ chiến dịch Công bố các khoản chi trả, sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng đã được phát triển, và lần đầu được Thủ tướng Anh- ông Tony Blair công bố tại Hội nghị thế giới về Phát triển bền vững ở Johanerburg, Nam Phi vào năm 2002 (RWI, 2008).

Ảnh: quangninh.gov.vn

EITI là một sáng kiến mang tính liên minh tự nguyện giữa các chính phủ, các công ty, các tổ chức xã hội và các tổ chức quốc tế cùng chung mục đích nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành khai thác khoáng sản. Đây là một tiêu chuẩn toàn cầu về minh bạch nguồn thu bao gồm hai cơ chế chủ yếu: (i) yêu cầu các công ty khai khoáng công khai các khoản chi cho chính phủ và ngược lại yêu cầu chính phủ công khai nguồn thu mà chính phủ nhận được từ các công ty khai khoáng; (ii) EITI yêu cầu một cơ quan quản trị độc lập nhằm đối chiếu các số liệu thu được, cơ quan này được quản lý và giám sát bởi một ủy ban đa đối tượng.

Tính đến tháng 5 năm 2010, đã có 31 Quốc gia trên Thế giới tham gia thực hiện EITI và có 5 nước khác đã công bố thực hiện EITI (EITI, 2010). Trong khu vực Đông Nam Á, sau Đông Timor, Indonesia là Quốc gia thứ hai đăng ký tham gia EITI bằng quyết định của Tổng thống vào 4/2010.

EITI cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các công ty khai khoáng và các tổ chức xã hội. Tính đến nay đã có hơn 50 công ty dầu khí và khoáng sản hàng đầu thế giới như Alcoa, BHP Billiton… và hàng trăm tổ chức xã hội dân sự, các hiệp hội khai mỏ như Viện minh bạch nguồn thu (Revenue Watch Institute), Oxfam, Viện xã hội Mở (Open Society Instutute), Viện dầu mỏ Hoa Kỳ..vv; các tổ chức quốc tế như Ủy ban Châu Âu, Ủy ban Châu Phi, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Châu Á… ủng hộ và chủ động tham gia vào sáng kiến này (http://eiti.org).

Gần đây, Trung Quốc- Quốc gia láng giềng của Việt Nam cũng có những động thái tích cực về EITI thông qua sự ủng hộ của mình ở Nghị quyết hội nghị chung của Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh tính minh bạch phải được tăng cường ở tất cả các quốc gia thành viên. Hơn nữa, các công ty khai khoáng của Trung Quốc ở các nước như Mông Cổ, Nigeria, Gabon và Kazakhstan đã và đang thực thi các báo cáo trong khuôn khổ EITI (Paris, 2009). Không chỉ riêng Trung Quốc, các nước G20 họp ở Pittsburgh, Hoa Kỳ vào 9/2009 đã ra bản tuyên bố chung trong đó khuyến khích sự tự nguyện tham gia EITI (U.S. Government, 2009).

Lợi ích của việc tham gia EITI

Vậy thì điều gì hấp dẫn các nước tham gia cũng như quan tâm tới sáng kiến này ngày càng tăng? Nhìn chung, tham gia EITI sẽ mang đến các lợi ích cơ bản sau (EITI1, 2009):

1.      Đảm bảo một phần lớn lợi nhuận từ tài nguyên dầu mỏ và khoáng sản được sử dụng để phục vụ nhân dân.

2.      Nâng cao khả năng kiểm tra và giám sát quỹ: thông qua các báo cáo EITI, nhân dân cũng như các nhà hoạch định chính sách sẽ biết được Chính phủ thu được bao nhiêu từ hoạt động khai khoáng cũng như nguồn thu này được sử dụng ra sao.

Trong một số trường hợp báo cáo EITI có thể giúp chính phủ thu hồi được các khoản thu mà các công ty chi khai khoáng trả dưới mức quy định.

Ví dụ như trường hợp của Nigeria, báo cáo kiểm toán EITI của Nigeria đã chỉ ra một khoản chênh lệch giữa số tiền mà các công ty trả cho chính phủ và số tiền mà ngân hàng trung ương Nigeria nhận là 230 triệu naira (khoảng 46 tỉ đồng). Sau khi kiểm toán kỹ lưỡng hơn thông qua các bản đối chiếu và các bản giải trình, thì lượng quỹ bị thất thoát là 8,5 triệu naira (khoảng 1,7 tỉ đồng) (RWI, 2008). Do vậy, kết quả báo cáo EITI đã giúp chính phủ thu hồi được một khoản tiền đáng kể, tránh thất thoát cho nhà nước.

3.      Tăng cường trên diện rộng chống tham nhũng và tăng cường các chương trình nghị sự quản trị tốt: qua việc khuyến khích minh bạch hóa, EITI có thể là trở ngại thật sự đối với các hoạt động tham nhũng.

4.      Xây dựng niềm tin của nhân dân với các thể chế công: nhân dân sẽ cảm thấy vai trò của mình lớn hơn trong quá trình lập định chính sách khi được tham gia thảo luận về các khoản thu-chi từ khai khoáng của Chính phủ. Do đó, họ sẽ thấy tự tin và hài lòng khi lợi ích của mình được cân nhắc trong việc ra quyết định. Điều hiển nhiên rằng một xã hội ổn định là một xã hội ở đó nhân dân tin tưởng vào chính quyền và vai trò, lợi ích của người dân được quan tâm đúng mức.

Công trường khai thác bô xít ở Nhân Cơ. Ảnh VNN

5.      Tăng cường giảm thiểu những mâu thuẫn nảy sinh giữa cơ quan nhà nước, công ty và cộng đồng: trong hầu hết trường hợp, các hoạt động khai thác khoáng sản dẫn tới việc người dân mất đất (cả đất canh tác lẫn đất ở), môi trường tự nhiên bị ảnh hưởng xấu và văn hóa bản địa bị xáo trộn do nhiều lao động từ các nơi khác đổ về. Những mặt trái liên quan tới khai thác khoáng sản thường dẫn tới các chống đối hoặc tệ hơn là các xung đột giữa cộng đồng sở tại với chính quyền và công ty khai thác.

Một ví dụ điển hình như tình trạng xung đột xã hội kéo dài và căng thẳng ở đảo Aceh, Indonesia mà có lẽ nguyên nhân chính là khởi nguồn từ nguồn lợi dầu mỏ khổng lồ. Một khi tình trạng chống đối và xung đột nảy sinh, chính quyền và công ty khai thác thường đổ lỗi cho nhau.

Việc thực thi EITI tạo ra một môi trường minh bạch hơn thông qua các diễn đàn nhằm thảo luận, thông hiểu và tìm ra các giải pháp nhằm xây dựng lòng tin giữa các bên và giúp phần giảm thiểu các mâu thuẫn.

6. Cải thiện môi trường đầu tư: khi một quốc gia tham gia vào sáng kiến minh bạch tài nguyên điều đó có nghĩa là quốc gia đó đã gửi một tín hiệu rõ ràng tới các nhà đầu tư và các công ty quốc tế rằng Chính phủ cam kết tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng. Điều này sẽ giúp quốc gia đó hấp dẫn hơn trong mắt của nhà đầu tư.

Việt Nam có nên tham gia EITI?

Mặc dù Việt Nam đã một hệ thống luật pháp tương đối đầy đủ cho ngành tài nguyên khoáng sản (Luật Khoáng sản năm 1996 và luật Khoáng sản bổ sung năm 2005) và nhiều luật, văn bản dưới luật liên quan như Luật bảo vệ môi trường, Luật phòng chống tham nhũng, cơ chế minh bạch trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư…vv. Tuy nhiên, tình trạng thất thoát tài nguyên và nạn tham nhũng trong ngành khai khoáng vẫn không hề giảm mà thậm chí còn trầm trọng hơn.

Điều này có thể thấy rõ qua chỉ số về tham nhũng gần như không giảm qua các năm gần đây cũng như tình trạng quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản ồ ạt ở các địa phương như khai thác than ở Quảng Ninh, quặng ở Cao Bằng, sa khoáng titan ở các tỉnh ven biển Miền Trung..vv.

Chỉ tính riêng ở Quảng Ninh, chưa tính đến các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và xã hội do hoạt động khai thác than, mỗi năm ước tính có khoảng 10 triệu tấn than được xuất lậu và gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước khoảng 4500 tỉ đồng, chiếm tới 44,3% tổng thu ngân sách của tỉnh Quảng Ninh (tính theo tổng thu ngân sách năm 2009) (Minh Quang & Đỗ Hữu Lực, 2009; Tổng cục thống kê, 2009).

Một con số không hề nhỏ đang chảy vào túi tư nhân và các nhóm lợi ích!.

Việt Nam vừa chớm bước vào Quốc gia thu nhập trung bình thấp và đang trong quá trình phát triển để trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Tài nguyên khoáng sản chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng giá trị tài nguyên thiên nhiên (khoảng 40%) và là lại loại tài nguyên không tái tạo (CIEM & DoE, 2008). Trong nhiều thập kỷ qua, tài nguyên khoáng sản đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển đất nước.

Tuy nhiên, Việt Nam đang thất thoát một lượng của cải lớn và mất đi vĩnh viễn một động lực đáng kể cho sự phát triển của tương lai. Mặc dù đã hơi muộn, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác là phải có các cải cách về mặt chính sách và quản lý cũng như tăng cường khả năng giám sát của nhân dân trong các hoạt động khai khoáng.

Đứng trước những bất cập và thách thức đó, chúng ta phải làm gì để giảm thiểu những thất thoát và tình trạng tham nhũng đang ngày càng trầm trọng hơn?

Trong luật khoáng sản của Việt Nam, tài nguyên khoáng sản là sở hữu toàn dân và nguồn thu từ các hoạt động khai khoáng phải được sử dụng để phát triển đất nước. Điều này cũng giống như nguyên tắc của EITI, Hiến chương về tài nguyên (EITI1, 2009; Resource Charter, 2009).

Để thu được tối đa nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên, trong khi tiếp tục thúc đẩy các cải cách thể chế, Việt Nam cần tăng cường tính minh bạch của các thể chế công và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng.

Những hệ lụy của nền quản trị kém như thất thoát tài nguyên, tham nhũng, cạnh tranh bất bình đẳng…vv sẽ được giảm thiểu đáng kể nhờ vào một cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình cao hơn, trong đó có sự tham gia và giám sát của xã hội dân sự.

Trong vài năm qua với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ khác, Việt Nam đã bước đầu tiếp cận với EITI. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn chậm trễ và vấn đề tham gia EITI chưa được quan tâm đúng mức. Bài học tham gia EITI từ rất sớm của Ghana đã mang lại nhiều ích lợi mà chúng ta có thể học được bởi lẽ việc tham gia vào sáng kiến này sớm, không  chỉ lượng tài nguyên thất thoát ít hơn mà năng lực giải trình của các cơ quan nhà nước và công ty khai khoáng được tăng lên đáng kể do nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của ủy ban EITI cũng như các đối tác liên quan. Hơn thế nữa, việc tham gia sớm có thể tận dụng được các cơ hội đầu tư từ các nhà đầu tư quốc tế.

Để ngành công nghiệp khai khoáng phát một cách triển bền vững, đóng góp đáng kể vào công cuộc phát triển đất nước, cũng như góp phần vào nỗ lực tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu tham nhũng; Việt Nam nên thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng.

Trong bối cảnh phát triển thiếu bền vững hiện nay, tham gia sáng kiến EITI dường như là một lời giải đúng cho ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam.

—-

Tài liệu tham khảo

CIEM & DoE (2008). Hạch toán giá trị tài sản của Việt Nam: Vai trò tài nguyên thiên nhiên. Nguồn:http://www.vnep.org.vn/Modules/CMS/Upload/6/Natural%20wealth%20of%20Vietnam_Vietnamese_11_08.pdf [Truy cập: 25/5/2010].

EITI1 (Extractive Industries Transparency Initiative). (2009). EITI Guide for legislators: how to support strengthen resource transparency. EITI. Oslo, Norway.

EITI2. (2009). EITI rules: including the validation guide. EITI. Oslo, Norway.

EITI. (2010). EITI progress report 2009. Nguồn: http://eiti.org/files/EITI%20Progress%20Report%202009.pdf [Truy cập: 22/2/2010].

EITI. (n.d.). Country implementation. http://eiti.org/eiti/implementation. [Truy cập: 23/2/2010].

Minh Quang & Đỗ Hữu Lực. (2009). Vì sao chủ tịch Tập đoàn TKV bị kỷ luật?. Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/335093/Vi-sao-chu-tich-Tap-doan-TKV-bi-ky-luat.html

Paris., F. (2009). China and the EITI. EITI. Nguồn: http://eiti.org/blog/china-and-eiti [Truy cập: 23/2/2010].

RWI. (2008). EITI beyond the basics. New York: Revenue Watch Institute.

U.S. Government. (2009). Leader’s statement: Pittsburgh summit. Nguồn: http://www.pittsburghsummit.gov/mediacenter/129639.htm [Truy cập: 23/2/2010]

 (Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-06-14-nganh-khai-khoang-va-moi-lo-loi-ich-nhom

24
Th6
11

Việt Nam với lời nguyền tài nguyên

Phụ thuộc khá nhiều vào lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên, Việt Nam có nguy cơ mắc phải lời nguyền tài nguyên hay căn bệnh Hà Lan nếu không có các biện pháp quản lý vĩ mô tốt.

Nguy cơ cao

Việt Nam được coi là một nước giàu tài nguyên hydro-carbon (dầu mỏ và than đá), trong đó xuất khẩu của các mặt hàng này chiếm 31,2% tổng lợi nhuận từ xuất khẩu (IMF, 2007; GSO, 2007). Nếu tính cả xuất khẩu các loại khoáng sản khác, đặc biệt là kim loại như titan, đồng, kẽm…thì tỷ lệ đóng góp của tài nguyên thiên nhiên tới tổng xuất khẩu cũng như tổng thu nhập quốc dân sẽ cao hơn nhiều.

Rõ ràng là Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên này và có nguy cơ mắc phải lời nguyền tài nguyên hay căn bệnh Hà Lan nếu không có các biện pháp quản lý vĩ mô tốt.

Hơn nữa, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam được đánh giá là nghiêm trọng. Theo tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International), trong năm 2009, Việt Nam xếp thứ 120 trên 180 quốc gia trên thế giới về tham nhũng (Transparency International, 2009). Thứ hạng về tham nhũng không có tiến triển đáng kể trong một thời gian dài.

Ảnh: hatinh24h.org

Trong khi đó, một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới lời nguyền tài nguyên là nạn tham nhũng. Do vậy, Việt Nam có nguy cơ cao mắc phải cạm bẫy lời nguyền tài nguyên.

Biết hi sinh lợi ích trước mắt

Việc hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng đã bày ra những cơ hội lớn cũng như những thách thức đáng kể cho Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước. Những ảnh hưởng (tiêu cực lẫn tích cực) xuất phát từ yếu tố nội tại cũng như yếu tố bên ngoài đã và đang tác động mạnh mẽ tới Việt Nam trong chiến lược quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung vốn đã có nhiều bất cập.

Ngành khai khoáng của Việt Nam đang phải đối mặt với sự phát triển thiếu bền vững do nhiều yếu tố như cơ sở pháp lý chưa chặt chẽ, mức độ thực thi pháp luật kém và ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài.

Theo Coxhead (2007) thì sự tăng cường ảnh hưởng thương mại và đầu tư của Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng xấu tới các nước trong khu vực ASEAN. Hơn nữa, những nước có nền công nghiệp kém đa dạng như Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.

Các ngành công nghiệp như da giầy và các ngành liên quan sẽ dễ bị tổn thương nhất. Khi các ngành này suy giảm sẽ tạo ra hậu quả trên diện rộng trong việc điều chỉnh thị trường lao động.

Những nước trong khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Myanmar hay các vùng cao và biên giới ven biển của Việt Nam nơi mà chính quyền trung ương kiểm soát yếu nhất sẽ có nguy cơ lớn nhất trước ảnh hưởng tiêu cực mà Trung Quốc mang lại. Do đó, Việt Nam cần xây dựng và áp dụng các chính sách cũng như thể chế tốt hơn về quản lý tài nguyên thiên nhiên cho các vùng dễ bị ảnh hưởng nhằm giảm thiểu cũng như loại bỏ những rủi ro mang lại.

Hy sinh lợi ích trước mắt là điều cần thiết để đảm bảo tăng trưởng cao hơn trong tương lai.

Hơn nữa, nhận biết rõ ràng những phí tổn có thể xảy ra khi khai thác quá mức các nguồn tài nguyên và hiểu rõ những ảnh hưởng của các thay đổi từ bên ngoài về thị trường toàn cầu nói chung là bước khởi đầu để thảo luận về các đổi mới chính sách và thể chế nhằm giải quyết lời nguyền tài nguyêncũng như nguồn gốc của nó.

Quản chặt dòng tiền

Tùy theo cấu trúc của nền kinh tế và điều kiện xã hội ở mỗi nước mà mức độ thiệt hại từ hậu quả củalời nguyền tài nguyên hay chỉ đơn thuần là căn bệnh Hà Lan sẽ khác nhau. Tuy nhiên, những ảnh hưởng tiêu cực từ căn bệnh Hà Lan như tăng tỷ giá tiền tệ có thể được giảm thiểu hoặc loại bỏ phần lớn nhờ vào những chính sách tài khóa phù hợp. Chẳng hạn như Chính phủ không nên chấp nhận những nguồn thu đột ngột từ các công ty đa quốc gia dưới bất kỳ dạng nào như thuế, tiền thuê mỏ hay quà tặng (Davis, 1995).

Mặt khác, theo Mikesell (1997), những thu nhập đột ngột có thể được điều chỉnh qua các quỹ bình ổn vốn. Hiện nay, hầu hết lợi nhuận từ các hoạt động khai khoáng đều do nhà nước quản lý, do vậy Chính phủ có thể điều chỉnh các nguồn thu bột phát thông qua hệ thống ngân hàng trung ương.

Một chính sách khác có thể giúp ngăn chặn đà tăng giá đồng nội tệ là yêu cầu các công ty khai khoáng bán trực tiếp các khoản thu đột xuất cho ngân hàng trung ương hay ngân hàng trung ương có thể mua ngoại hối từ thị trường nhằm ngăn chặn giá trị tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange) của đồng nội tệ. Những khoản thu đột ngột từ xuất khẩu khoáng sản nên được đầu tư vào phát triển giáo dục, các dự án sinh lợi hoặc vào dự trữ ngoại hối và tài sản nước ngoài nhằm duy trì đầu tư trong các giai đoạn lợi nhuận thu được từ xuất khẩu thấp cũng như tránh rủi ro và bảo tồn nguồn vốn.

Các chính sách này cần được đan xen với các chính sách tiền tệ và tài khóa phù hợp để ngăn chặn lạm phát và thâm hụt ngân sách do tăng cường chi tiêu công.

Minh bạch ngành khai khoáng

Nhằm ngăn chặn cạm bẫy lời nguyền tài nguyên cũng như tăng cường khả năng giám sát và đánh giá của chính phủ, thì những qui định và cơ chế về minh bạch trong ngành  công nghiệp khai khoáng, đặc biệt là về nguồn thu là rất cần thiết.

Mặc dù công khai minh bạch thông tin đã được đề cập trong Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11, Luật phòng chống tham nhũng số 55/2005/QH11 cũng như trong các Văn kiện Đại hội Đảng IX và X, tuy nhiên chưa có một hệ thống rõ ràng để thúc đẩy minh bạch hóa thông tin trong ngành khai khoáng. Việc tham gia vào sáng kiến minh ngành công nghiệp khai thác -EITI sẽ là một trong các lựa chọn đúng đắn. Việt Nam sẽ thu được nhiều lợi ích từ việc tham gia sáng kiến này.

Cụ thể là nhà nước sẽ thu được tối đa nguồn thu từ các hoạt động khai khoáng, giảm thiểu tham nhũng và căng thẳng/xung đột xã hội, tăng cường dân chủ thông qua việc tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình lập định chính sách; tạo môi trường đầu tư tốt hơn và củng cố lòng tin với các đối tác, đặc biệt là với các nhà đầu tư quốc tế về cam kết của chính phủ trong cuộc chiến chống tham nhũng và thúc đẩy quá trình minh bạch hóa thông tin.

Tránh bẫy tài nguyên, cách nào

Một vài kiến nghị cho Việt Nam để tránh lời nguyền tài nguyên:

Một là, duy trì các chính sách tài khóa chặt chẽ trong các thời kỳ bùng nổ tài nguyên, đặc biệt khi các tài nguyên thiên nhiên này chiếm một phần chủ yếu của nền kinh tế địa phương hoặc quốc gia.

Một lựa chọn là gửi nguồn thu từ hoạt động khai thác khoáng sản vào một quỹ tài chính. Ví dụ về thành công này có thể thấy trong trường hợp Na Uy, Ả Rập Saudi và các nước khác (Larsen, 2005).

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Sala-i-Martin & Subrmamanian (2003), không có lựa chọn tốt nhất cho một quốc gia mà tính minh bạch còn yếu kém hoặc thiếu tính minh bạch. Trong điều kiện đó, việc giảm khai thác là một lựa chọn tốt hơn.

Cũng theo Sala-i-Martin & Subramanian (2003): ” Chưa khai thác dầu khí và khoáng sản dưới lòng đất là một hình thức tiết kiệm”.

Tái phân phối các khoản thanh toán là một lựa chọn khác để kiểm soát chi tiêu trong giai đoạn bùng nổ tài nguyên. Quỹ tiền tệ thế giới khuyên rằng các khoản thanh toán phân phối lại phải được dành cho người trưởng thành, mà tốt hơn là cho phụ nữ, và sau đó nguồn thu của chính phủ từ khai khoáng sẽ được tái thu thông qua các loại thuế (Sala-i-Martin & Subramanian, 2003).

Ross (2001) cho rằng, điều này sẽ nâng cao trách nhiệm giải trình của chính phủ bởi vì các khoản thu sẽ bắt nguồn từ một căn cứ tính thuế rộng rãi.

Ba là, cần tái đầu tư nguồn thu từ dầu mỏ để tăng cường cho các ngành phi thương mại. Như trường hợp của Indonesia, điều này sẽ giảm thiểu các hiệu ứng trì trệ trong sản xuất, chế tạo và nông nghiệp, trong khi cũng có khả năng giúp đỡ để tránh lãng phí hay chi tiêu bừa bãi.

Bốn là, hãy duy trì nếu không thể tăng đầu tư giáo dục, cả ở Việt Nam và đặc biệt tại các tỉnh có hoạt động khai thác khoáng sản nơi mà phụ thuộc chặt chẽ vào khoáng sản,. Đầu tư vào giáo dục cũng là một phương tiện để đạt được phát triển bền vững ngành khai khoáng bằng cách giúp chuyển vốn tự nhiên vào vốn con người (Crowson, 2009).

Năm là, cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức công trong việc quản lý phát triển khoáng sản. Thể chế minh bạch và trách nhiệm giải trình là  những cơ chế cần thiết để tránh nạn tham nhũng và tìm kiếm địa tô không mong muốn trong ngành khai khoáng. Một trong các biện pháp nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình là tham gia vào sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai thác -EITI (Extractive Industries Transparency Initiative).

http://www.tuanvietnam.net/2010-05-25-viet-nam-voi-loi-nguyen-tai-nguyen




Tháng Mười Một 2017
H B T N S B C
« Th6    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

Chuyên mục

Top Clicks

  • Trống

Hit

  • 10,953

Triết lý sống

Sống trên đời cần phải có một đống tiền Để làm gì em có biết không...? Để...không sợ thằng nào cả!

RSS Vietnamnet

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS BBC News

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

Friends

Trang